TRANG CHỦ
  Liên hệ  | Tìm kiếm  | Sơ đồ Website  | English    
Chủ nhật, ngày 26/2/2017  
   Giới thiệu Viện
   Tin tức, hoạt động
   Hội thảo khoa học
   Nghiên cứu khoa học
   Thông tin Khoa học
   Đề tài, Dự án
   Diễn đàn trao đổi
   Diễn đàn Lý luận phát triển
   Chung quanh chủ đề OBAMA
   Văn nghệ giải trí
WEBSITE KHÁC

Online:
56

Số lượt truy cập:
3877888
Tham gia bàn về cải cách hành chính - lựa chọn, đào tạo, xử dụng và tôn vinh cán bộ hành chính nhà nước

Chúng ta cần ở công chức nhà nước

những yêu cầu gì ?

                                                           Vũ Duy Phú

 

  1. Đầu tiên là ý thức, tinh thần hết lòng phục vụ tập thể, phục vụ cộng đồng. Công chức là người làm trong bộ máy công quyền. Nhiệm vụ của bộ máy ấy là Quản lý và Phục vụ xã hội.  Họ tham gia vào bộ máy này để quản lý ai và phục vụ ai ? Nếu không phải là quản lý và phục vụ mọi người dân trong cộng đồng ? . Vậy yêu cầu đầu tiên đối với một công chức nhà nước là phải có ý thức, có tinh thần vì tập thể, vì cộng đồng. Làm cách nào để nhận biết một người có ý thức, tinh thần vì cộng đồng ?  Trước hết hãy nói về cách nhận dạng: Bạn cứ xem trong một tập thể, ví dụ một nhóm nhỏ đi lao động công ích cuối tuần , hay đi du lich, du ngoạn tập thể thì sẽ thấy có những người chỉ chờ xem tập thể làm gì thì theo, rất “thụ động”, song có những người lo lo, lắng lắng, bàn chuyện này, đặt vấn đề về chuyện kia liên quan đến chuyến đị hay nhiệm vụ lao động sắp triển khai. Nói rộng ra, trong xã hội, có những người “lăn lóc” quan tâm, lo lắng tự nguyện làm hết việc này đến việc khác của tập thể trong xóm, ngoài làng, trong cơ quan, ngoài đường phố, rất sốt sắng . . . Tính cách này có thể xuất hiện từ tấm bé, từ mẫu giáo, đến trung học, đại học và ra đời làm người công dân. Mức độ ý thức vì cộng đồng có thể nhiều ít khác nhau, song đấy là “cái chip” người  của bộ máy quản lý và phục vụ công quyền. Khi còn là em bé, em lo cho nhóm của em, khi là người lớn, anh ta luôn luôn nghĩ đến công việc chung trong xã hội, khi là cán bộ lãnh đạo cấp cao, người đó sẽ hết lòng vì đất nước. Loại người này về cơ bản không mất nhiều tâm sức thời gian trong giờ làm việc, và ngay cả ngoài giờ chính quyền, lo cho chức vụ, quyền lợi và các việc riêng tư trong gia đình. Trong khi đó, lại có loại người luôn  đăm chiêu hoặc dửng dưng, cứ tưởng như thờ ơ với mọi chuyện, nhưng không phải anh ta chẳng quan tâm đến cái gì, mà là đang nghĩ ngợi, chẳng hạn, đến một cái máy mà anh ta đang chế tạo dở ở  viện, ở xưởng, hay mấy mối làm ăn kinh tế chưa hoàn tất, hoặc tâm trí còn để vào mấy vần thơ đang ló ra. Đó là “chip người” của công việc sáng tạo riêng biệt, của công nhân hoặc kỹ sư, nhà văn . . .. Nếu chỉ tính riêng về mặt này, thì trong hai loại người nói trên, mà nếu cần chọn ra một người để làm công chức nhà nước, thì ta nên chọn loại người thứ nhất.
  2. Thứ hai là cần có ý thức trách nhiệm, tinh thần kỷ luật cao, chịu khép mình vào công việc có giờ giấc “hành chính” – tinh thần trách nhiệm càng cao, càng tốt- tác phong cần mẫn, chu đáo, không ngẫu hứng, không tuỳ tiện trong hành động. Điều này không cần giải thích nhiều. Các nhà khoa học, những nhà văn, người thày giáo . . .có thể họ làm việc đúng giờ, cũng có thể họ làm việc rất cần mẫn ngoài giờ “tuỳ theo sức khoẻ và sự thuận tiện” của họ, thậm chí rất ngẫu hứng (nửa đêm vùng dậy làm thơ, thiết kế, ban ngày lại ngủ . . .). Đối với nhân viên, cán bộ nhà nước thì không thể như vậy. Họ phải làm việc theo nhu cầu và “đơn đặt hàng” của xã hội, theo giờ gíâc, thời gian mà xã hội yêu cầu.
  3. Về tri thức, trước hết họ phải hiểu những đặc điểm và tổ chức của xã hội con người, từ cái xã hội bé như một nhóm công tác, hiểu được tổ chức và hoạt động của một cái phòng, ban, đến tổ chức làng xã, thôn xóm, rồi huyện, tỉnh, quốc gia, khu vực và thế giới . . .Tuỳ theo vị trí và tính chất công tác cụ thể, họ có thể chỉ cần hiểu khái quát, những khái niệm cơ bản khu trú vào miền công việc nhiệm vụ của họ, cũng có thể họ phải hiểu sâu rộng nhiều vấn đề trong cả giải rộngảti thức nói trên. Tuỳ theo cấp bậc càng cao trong bộ máy chính quyền, yêu cầu “thông tuệ đông tây, kim cổ” , không cần sâu, nhưng phải rộng, đối với họ càng cao .
  4. Cán bộ hành chính nhà nước là người tổ chức và quản lý công việc xã hội, do đó họ chỉ bắt buộc có một trình độ khoa học, công nghệ, chuyên môn kỹ thuật ở một trình độ nhất định, không nhất thiết phải là những chuyên gia kỹ thuật công nghệ của những ngành hẹp. Làm một trưởng phòng quản lý lâm nghiệp, hay cục trưởng một cục quản lý công nghiệp, anh ta sẽ không cần thiết hoặc bắt buộc phải là một tiến sỹ chuyên về lâm ngiệp hay một giáo sư vật lý chuyên về vật liệu hay  chế tạo máy. Các cán bộ quản lý nhà nước đó chỉ cần có tri thức bậc đại học về lâm nghiệp hoặc về công nghiệp. Khi cần đến những tri thức thật chuyên sâu, mà không phải khi nào cũng có yêu cầu đó, người công chức nhà nước có quyền thực hiện cơ chế tham khảo, tư vấn và phản biện của các chuyên gia chuyên ngành. Điều đòi hỏi ở người công chức nhà nước về mặt chuyên môn khoa học và công nghệ là họ có đủ trình độ và khả năng hiểu được, nhận thức được những gì các chuyên gia  chuyên ngành đề cập đến.
  5. Điều cần có ở các công chức nhà nước là sự am hiểu và thông thuộc sâu sắc các quy định hành chính nghiệp vụ nhà nước, đặc biệt là những quy định hành chính nghiệp vụ của ngành mà mình phục vụ và những ngành liên quan trực tiếp.Một cán bộ về quản lý đất đai, đương nhiên anh ta phải nắm thật tốt mọi quy định, các điều luật cũ và mới, mọi văn bản nhà nước về quản lý đất đai. Các công chức có vị trí càng cao, yêu cầu am hiểu và thông thuộc các quy định và nghiệp vụ quản lý hành chính nhà nước càng sâu, càng rộng, cho tới các văn bản hành chính pháp luật gốc của đất nước, như hiến pháp và các luật cơ bản, ở đây cũng có thể kể đến/ bao gồm (bắt buộc) những chủ trương, nghị quyết của Đảng. Trong quá trình giải quyết công việc hành chính, quản lý nhà nước, đụng đến vấn đề gì, là nắm được ngay, nó là cái gì, nằm trong các văn bản nào, thuộc khu vực nào trong hệ thống quản lý hành chính nhà nước (càng ít phải tra “cẩm nang” càng tốt, thời gian giải quyết công việc cho nhân dân càng nhanh). Đương nhiên, khi đi vào các điều chi tiết của luật pháp, thì đã có luật sư, (cũng như khi cần đi sâu vào các công thức toán học, các định luật  vật lý, hay những hiểu biết sâu về máy móc, về thực động vật, về bệnh tật hoặc cây trồng . . . thì đã có có chuyên gia chuyên ngành tương ứng, như đã nói ở trên)
  6. Người công chức nhà nước cần có khả năng thuyết phục và tổ chức nhân dân, xã hội thực hiện những chủ trương đường lối tổng quát và cụ thể của nhà nước (của Đảng và Chính phủ). Phạm vi rộng hay hẹp của cái xã hội mà anh ta cần quan hệ thuyết phục và tổ chức thực hiện là tuỳ thuộc cấp bậc và phạm vi chịu trách nhiệm của họ, từ đơn vị nhỏ nhất là đối với  từng người công dân có việc gì đó cần tìm đến “cửa quan”, đến anh/chị nhân viên văn phòng Uỷ ban nhân dân xã. Cái xã hội mà anh phục vụ lớn cho đến cả thôn, cả huyện, cho đến cả nước, và rộng hơn nữa. Để làm việc này, chắc chắn các hiểu biết chuyên sâu về khoa học tự nhiên và môi trường , về công nghiệp hoặc thơ ca là không cần thiết lắm, mà cần tri thức về các quy định văn bản, luật pháp của nhà nước, về con người, về khoa học tổ chức và tâm lý số đông, về tính nhân văn trong thái độ ứng sử với dân chúng, với các vấn đề của chính trị, kinh tế xã hội của đất nước, đặc biệt là cần  đạt được yêu cầu thứ 3 đã nói ở trên
  7. Cuối cùng và lại là quan trọng nhất: Người công chức nhà nước cần có tinh thần yêu nước nồng nàn và tin tưởng tuyệt đối ở khả năng xây dựng và phát triển bền vững đất nước, vào thắng lợi của CNXH đích thực (Xin xem bài: “Noi theo Mác, Ăngen và Lênin, chúng ta có thể vượt qua chính mình “ trên Website có tên www.vids.org.vn)

Chúng ta cũng lưu ý có những khía cạnh khác nhau, tuy không nhiều, giữa nhà lãnh đạo (các chính khách) với người cán bộ quản lý hành chính nhà nước. Song trong phạm vị bài viết này chúng tôi chưa đề cập đến.

Nói về nội dung và chất lượng cán bộ quản lý và lãnh đạo các tổ chức công quyền, ta thấy rất rõ rệt sự khác biệt với cán bộ khoa học tư nhiên trong lĩnh vực tài liệu, sách học tập và tham khảo của họ: Anh kỹ sư cơ khí, vị tiến sỹ ngành hoá học, và các vị chuyên gia KH và CN khác, không nhất thiết bắt buộc phải học thuộc hiến pháp của ta và tham khảo sâu hiến pháp các nước phát triển, mà “sách gối đầu giuờng” của các vị này là các tác phẩm của Einstien, Lômônôxốp, Newton, Hauskin, Menđêlêép, Ơclit . . . , nhưng các vị quản lý, lãnh đạo nhà nước từ cấp tỉnh trở lên thì không nên chẳng biết gì về lịch sử hình thành các loại triết học, về nguồn gốc CNXH  đích thực, về các sách kinh điển nói về đấu tranh giai cấp, về Tự do, Dân chủ và các nền Dân trị đã từng có của các học giả Châu Âu từ thế kỷ 19, 20. Sách “để cạnh giường” của các Vị này, ngoài Hêghen,Aristote, Phơbach, C.Mác, Lênin, Hồ Chí Minh ra,  thường là các tác phẩm: Chính thể đại diện, Bàn về tự do, Tâm lý học đám đông, Nền Dân trị Mỹ, Tham vọng bá quyền, Khảo luận thứ hai về chính quyền, Hoàn cảnh hậu hiện đại, Phê phán năng lực phán đoán, Vật lý và triết học, Nhiệt đới buồn, v v và v .v. .. . . Tất nhiên càng ngày hiểu biết của con người về các lĩnh vực ngày càng lan toả, chồng lấn , hoà quyện với nhau (như Lý thuyết hỗn độn, hay Hiệu ứng con bướm), nhưng dầu sao cũng vẫn có những ranh giới tương đối, tiện phân công nhau phù hợp với quỹ thời gian của từng nhóm người đủ để nắm vững  kịp thời vận dụng vào thực tiễn có kết quả.

 

Như vậy, ví dụ như tôi - người thật, việc thật - trước đây  khoảng hơn 30 năm, sau khi bảo vệ thành công  một đề tài khá chuyên sâu (nghiên cứu bộ nhớ hologram cho máy tính quang điện tử) trong luận án tiến sỹ khoa học vật lý tại Viện hàn lâm khoa học Hungary, khi về nước, do thiếu cán bộ quản lý hành chính, tôi được giao một công việc của một viên chức nhà nước.Tôi còn nhớ, mình hầu như chỉ đạt được yêu cầu thứ 4  và thứ 7 trong 7 yêu cầu liệt kê trên đây. Tôi phải vừa làm vừa học, mầy mò hàng chục năm, mà nhiều chỗ vẫn còn lổ đổ và “có chổ hổng” kéo dài. Chắc chắn là nếu kiểm tra ngạch bậc quản lý hành chính chu đáo như hiện nay, thì khi đó tôi đã không đạt yêu cầu. Và, chắc chắn tôi đã làm nhiều việc không đầy đủ chất lượng, kéo dài thời hạn công việc được giao, hoăc có những sai phạm nào đó khác nữa (Có điều là trước đây chưa  tiêu cực hoặc tham nhũng phổ biến như hiện nay, nên tôi may mắn không bị lây lan, tự nhiên mà tránh được) Tôi thấy thật là phí phạm, bao nhiêu công lao học tập nghiên cứu chuyên sâu vào lĩnh vực của mình 3, 4 năm trời mà chẳng vận dụng cụ thể được cái gì. rõ ràng (trừ cái khả năng tư duy và phương pháp làm việc khoa học) Một anh tốt nghiệp đại học nghiêm chỉnh, mà được học đầy đủ 5, 6 nội dung như đã liệt kê trên kia, chắc chắn làm việc tốt ngay từ đầu hơn tôi rất nhiều (và chắc chắn cũng có đủ tư duy và phương pháp khoa học cần thiết)

 

Vậy có thể thấy rằng, không nên đào tạo các nhà khoa học chuyên ngành khoa học tự nhên và xã hội trình độ tiến sỹ trở lên để làm quản lý hành chính nhà nước, nhưng nếu muốn sử dụng họ vào các công việc quản lý hành chính nhà nước thì lại phải đào tạo thêm cho đầy đủ các nội dung cần thiết khác như đã đề cập cho những người này, tại trường quản lý hành chính quốc gia chẳng hạn.

Để tránh hiện tượng chạy theo học hàm, học vị khoa học không thiết thực phục vụ công tác quản lý hành chính nhà nước, cũng nên và rất cần có cấp bậc khoa học cao tương xứng với yêu cầu đào tạo và phấn đấu không kém phần gian khổ, “học rộng, biết nhiều” trong lĩnh vực quản lý hành chính nhà nước này. Song nội dung bao gồm  đại loại như 6 – 7 điểm đã liệt kê trên đây. Và “học vị“ của họ có thể coi là phải gắn liến với nội dung đã được đào tạo chuyên về quản lý hành chính nhà nước nói trên, với chức vụ quản lý nhà nước của họ: trưởng  phòng, vụ  phó, vụ  trưởng, thứ trưởng . . .Ta hãy tập cho quen, sau khi đã đưa việc đào tạo, sử dụng, đề bạt cán bộ quản lý hành chính nhà nước vào quy củ cần thiết, có chất lượng, thì nhà nước hãy coi trọng và vinh danh thực sự (một cách chủ động, nhân tạo, có nghiên cứu đầy đủ) quá trình phấn đấu của các vị ấy , ví dụ cấp vụ phó là được coi trọng, được vinh danh ngang với  thạc sĩ  chẳng hạn, vụ trưởng là ngang với tiến sỹ, thứ trưởng, bộ trưởng nên coi trọng và vinh danh người ta ngang với phó giáo sư, giáo sư chẳng hạn, (tất nhiên không quá máy móc, ai cũng vậy, và cứ trưởng phòng thì chỉ ngang về học vấn với thạc sỹ, mà có thể anh ta cũng ngang với GS, nếu thực chất là trình độ khoa học của anh này đạt được như vậy) thì khi đó sẽ  giảm bớt sự “bất công” và giảm dần tiêu cực, không có chuyện nhờ , thuê viết hộ luận văn và bảo vệ luận án một cách “bôi bác”, mua bằng, bán cấp lộn xộn như hiện nay. Còn cũng nên tuyên truyền, phổ biến sâu rộng trong nhân dân: các học hàm PGS, GS là chỉ để cấp cho những cán bộ khoa học đã và đang giảng dậy và hướng dẫn khoa học trong các viện nghiên cứu và các trường học. Các nhà khoa học chân chính có các học hàm này cũng nên cùng nhà nước nghiên cứu đề xuất những biện pháp thích hợp để tránh xẩy ra hiện tượng suy giảm quá đáng chất lượng và uy tín các nhà khoa học (và quản lý), đến mức, không đủ năng lực, trình độ, phong thái tự tự tin đảm nhiệm chức trách, để làm việc, để quan hệ ngang bằng bình đẳng với các vị trí tương đương của nước ngoài. Không nên để xẩy ra nguy cơ phải “kiểm tra cấp lại học vị” hoặc “đổi” cấp, (tiến sỹ ta tương đương đại học nuớc ngoài, vụ phó xuống làm việc của trưởng phòng, phó phòng) tương tự đổi tiền khi đồng tiền mất giá quá lớn vậy ! 

Tóm lại, nên sửa chữa, khắc phục đồng bộ: cần tiến hành việc đào tạo, sử dụng, kiểm tra, đánh giá, xét nâng cấp, đề bạt thật nghiêm túc, có chất lượng một vụ phó, vụ trưởng, thứ trưởng, bộ trưởng,  để việc nhà nước và xã hội coi trọng và vinh danh họ cũng xứng đáng như coi trọng và vinh danh các nhà khoa học (TS, PGS, GS, Viện sỹ) chân chính lâu nay . Vũ Duy Phú.

Ngày cập nhật: 11/11/09


 

TIÊU ĐIỂM
• Tư liệu nghiên cứu
• Cuộc cách mạng bao trùm
• Tư liệu tham khảo mới
• Tham gia bàn về cải cách hành chính - lựa chọn, đào tạo, xử dụng và tôn vinh cán bộ hành chính nhà nước
• Cùng tìm kiếm một con đường mới- Phần II
Tôn chỉ, mục đích
1. Nghiên cứu những vấn đề cơ bản trong lĩnh vực phát triển
2. Tiến hành tư vấn, phản biện, thẩm định và các dịch vụ KH&CN liên quan đến những vấn đề phát triển
3. Tổ chức bồi dưỡng kiến thức về khoa học phát triển
4. Tổ chức diễn đàn về vấn đề phát triển
5. Cung cấp thông tin, xuất bản ấn phẩm về những vấn đề phát triển
6. Hợp tác trong mạng lưới các tổ chức nghiên cứu phát triển

Bản quyền 2005 thuộc Viện Những Vấn đề Phát Triển
Địa chỉ: 14 Lê Phụng Hiểu - Hoàn Kiếm - Hà Nội. 
Điện thoại: 04-9350984 ,  Fax: 04-9350984