TRANG CHỦ
  Liên hệ  | Tìm kiếm  | Sơ đồ Website  | English    
Chủ nhật, ngày 26/2/2017  
   Giới thiệu Viện
   Tin tức, hoạt động
   Hội thảo khoa học
   Nghiên cứu khoa học
   Thông tin Khoa học
   Đề tài, Dự án
   Diễn đàn trao đổi
   Diễn đàn Lý luận phát triển
   Chung quanh chủ đề OBAMA
   Văn nghệ giải trí
WEBSITE KHÁC

Online:
65

Số lượt truy cập:
3877893
Cùng tìm kiếm một con đường mới- Phần II

Cùng tìm kiếm một con đường mới

(tiếp theo)

Phần II:        Mô tả khái quát và hậu qủa tất yếu

của ba con đường tiến hoá phổ biến đến nay của Loài người

 

Hầu như mọi người có trí tuệ minh mẫn và “vô tư” trên Hành tinh đều cho rằng, các con đường mà Loài người vừa đi trong nhiều thế kỷ qua là đều chưa ổn. Nhưng muốn tìm con đường “ổn” hơn, thì cần phải phân tích kỹ, những con đường vừa qua không ổn ở chỗ nào. Thế giới đã mất rất nhiều công sức, trí tuệ đi tìm, đã tranh biện nhiều khi rất gay gắt, tốn không biết bao giấy mực để phân tích, trình bầy, thậm chí đã phải dùng đến cả phương tiện quyết liệt “một mất, một còn” của bom đạn. Nay tôi xin thu gom, tóm tắt rất ngắn gọn lại và “xử lý” theo một hệ toạ độ của riêng tôi như sau.

 

Về tổng quát sự tiến hoá của các nước trên thế giới có thể chia làm 3 nhóm lớn:

  1. Nhóm nước đi Con đường tiến hoá theo chủ nghĩa tự do, dân chủ tự nhiên
  2. Nhóm kia: Con đường tiến hoá theo chủ nghĩa tập quyền, áp đặt nhân tạo.
  3. Nhóm thứ ba: Con đường tiến hoá theo Chủ nghĩa xã hội “nhầm lẫn”

Sự “khoanh” nhóm này là hoàn toàn tương đối, nhằm chỉ để dễ dàng trình bầy phân tích vấn đề; thứ nữa, hãy hiểu cho rằng một câu trong bài vỉêt ngắn này có thể nói về một hiện tượng, hay một quá trình nào đó kéo dài hàng chục, hàng trăm năm, đã được lược bỏ hết những dích dắc trung gian, một cách hình tượng: đã được “đục đẽo” theo kiểu phác thảo, “làm phẳng” đi rất nhiều, cốt để dẫn đến vấn đề chính sẽ nói tới ở phần III sau này. Vậy kính mong không mất thì giờ nhiều vào những “nhát cắt” chi tiết có thể chưa chuẩn xác và đầy đủ.

 

            Sau đây là nội dung chi tiết:

1- Về con đường thứ nhất: Để ngắn gọn, và thật rõ nét, tôi xin lấy Hoa Kỳ (trước nhiệm kỳ đầu của TT Obama) làm mẫu hình để phân tích cho sự tiến hoá tiêu biểu kiểu tự do dân chủ tự nhiên này.

+ Đặc điểm đầu tiên: Quốc gia Hoa kỳ hình thành từ dân cư tứ phương tụ họp lại - lập thành Hợp chủng quốc. Không ai, không dân tộc nào trên đất Hoa Kỳ có thế để nói là người chủ duy nhất của đất nước này. Nền chính trị dựa trên nguyên tắc tự do, dân chủ này có được là thông qua những cuộc đấu tranh sống còn đẫm máu kéo dài để chống lại các tư tưởng lạc hậu chuyên quyền, cưỡng bức, thống trị kiểu cũ của các chế độ nộ lệ, phong kiến và tư bản hoang dại ban đầu.Từ đặc điểm tổng quát này dẫn đến mấy đặc điểm cụ thể sau :

+ Đặc điểm của lối sống, lối nghĩ Tự do, dân chủ một cách tự nhiên:

a)      Nước Mỹ theo chế độ Tư bản, theo thể chế đa nguyên, đa đảng. Chính quyền Mỹ là chính quyền của toàn dân (đã phải trả tương đối đắt giá cho điều này ! ) nên để tồn tại, chính quyền buộc phải thực thi dân chủ - nhân quyền. Lý tưởng cao cả về tự do, bình đẳng, bác ái của những người lập nên nước Mỹ được viết trong bản tuyên ngôn lập quốc đã được toàn thể thế giới ngưỡng mộ và vẫn soi đường tiến tới cho nước Mỹ hôm nay. Ở Mỹ, sau một quá trình đấu tranh đổ máu cho tự do, nên thực sự ngày nay đã có nền Dân trị đầy đủ nhất trên thế giới: Nếu anh tài giỏi, muốn làm gì đó cho đất nước, xin mời, anh có thể tranh cử nghị sĩ hay Tổng thống. Hôm qua anh là Tổng thống, hôm nay, hết nhiệm kỳ, anh đã là người dân, bình đẳng với mọi người. Tiêu chí đánh giá giá trị chung trong xã hội Mỹ là tiền và tài, tài thật sẽ cũng lại đẻ ra tiền (Tài giả sẽ bị loại bỏ). Tuy là đa nguyên, đa đảng, nhưng trên thực tế, nước Mỹ dưới sự lãnh đạo liên tục của một đảng - đảng theo CNTB, song họ khéo léo phân thành hai phe, Dân chủ và Cộng hoà, cạnh tranh lẫn nhau quyền lãnh đạo đất nứoc theo những đường lối có lợi cho các nhóm tư bản tài phiệt mà chúng đại diện, nhưng vẫn luôn có tính đến yêu cầu tối thiểu của nhân dân, theo một định hướng chung: CNTB. Mọi đảng phái khác không có đường lối gì hấp dẫn nhân dân, nên cũng không có được ảnh hưởng gì đáng kể.

b)      Vì người dân được tự do, đó là điều kiện cốt yếu nhất để thoả sức sáng tạo. Và đấy là lực đẩy lớn nhất giúp cho xã hội Hoa Kỳ đạt tới những đỉnh cao của Nhân loại, cả sức mạnh cứng lẫn sức mạnh mềm, tại hầu hết các mặt chính trị, kinh tế, xã hội, văn học, nghệ thuật, khoa học, công nghệ, quân sự, ngoại giao, giáo dục đào tạo, đi vào vũ trụ . . .chỉ trong vòng có gần 300 năm từ khi lập nước ! Mọi cơ chế quản lý xã hội và thị trường của Mỹ đều nhằm luôn luôn tạo một môi trường bình đẳng để tự do cạnh tranh, và để luôn luôn đảm bảo nhà nước là người trọng tài khách quan cho cuộc cạnh tranh tự do đó. Điều đó chính là một đảm bảo chắc chắn và tối ưu cho sự phát triển mọi tài năng và tiềm lực của đất nước. Chính điều đó làm cho Hoa Kỳ là nơi hấp dân nhân tài của thế giới, cũng dường như không sợ ai đó có thể “diễn biến hoà bình” nhân dân mình ! (Quả thật, cũng có một giai đoạn ngắn: Khi Liên Xô (cũ) phát triển mạnh mẽ và phóng được vệ tinh nhân tạo đầu tiên của Trái đất)

c)      Khi Hoa Kỳ đã trở thành “number one” trên thế giới về hầu hết các mặt, nó có khuynh hướng thực sự muốn san sẻ hào hiệp những điều tốt đẹp, và nhận thức được rằng nếu môi trường sống thế giói yên ổn, thì bản thân nó cũng bình yên hạnh phúc. Sau đó dần dần hình thành 2 xu hướng làm méo mó lý tưởng đẹp đẽ ban đầu của nước Mỹ:

Một là: Giới quyền lực nước Mỹ đã cảm nhận được rằng, nếu được  “thi đấu” trong thị trường tự do, nó luôn luôn tự tin là sẽ thắng, vì vậy, ngoài lý tưởng cao đẹp của cha ông để lại, và đôi khi đánh lộn sòng với lý tưởng cao đẹp đó, vì ham muốn chiến thắng và quyền lực, ham muốn siêu lợi nhuân, nó luôn có khuynh hướng và “nhu cầu” muốn thúc ép mọi nuớc, mọi dân tộc cùng sống tự do, bình đẳng, “nhân quyền” như Hoa Kỳ, muốn các nước phải mở hết mọi cửa tự do để nó có thể “thâm nhập” vào cùng “thi đấu”, cùng cạnh tranh một cách tự do bình đẳng (không một chút bảo hộ mậu dịch) với mọi nước, mọi dân tộc bản xứ. Cảm nhận, tự tin sẽ chiến thắng, và mục tiêu siêu lợi nhuận đã là động cơ quan trọng nhất (vì còn một động cơ rất quan trọng thứ hai sẽ nói tới sau đây) thúc đẩy nước Mỹ truyền bá bằng mọi cách lối sống Mỹ - Tự do, Dân chủ, Nhân quyền. Sau này khi mục đích cao cả truyền bá nhân quyền đã bị các thế lực ích kỷ hại nhân (quyền lợi nhóm) trong và ngoài nước Mỹ lợi dụng, đã nhiều thời kỳ các thế lực này đạt được mục đích thúc ép chính phủ Mỹ dùng đến những thủ đoạn xấu xa, thậm chí gây chiến tranh tàn bạo để bằng mọi giá chiến thắng đối thủ thông qua công cụ tự do - nhân quyền. Nước Mỹ hùng cường rất nhiều trường hợp đã sử dụng sai và nhầm chỗ sức mạnh của mình: chinh phục nước này, lật đổ chính phủ nước kia, làm chỗ dựa cho nước khác hoành hành ngang ngược theo quan điểm lợi ích, an ninh riêng của bản thân và đồng minh, và để phục vụ các chính sách phát triển lâu dài các tập đoàn kinh tế của mình. Bằng cách đó, chính nước Mỹ (và nhiều nước lớn khác theo cách đó) có thể thắng thế nhất thời, song vô tình không thấy rằng đã để lại mầm mống những sung đột và hận thù kéo dài âm ỉ trong Nhân loại (vì bị tước đoạt, bị bóc lột, bị tàn sát, và bị xỉ nhục . . .)

Hai là: Vào giữa thế kỷ XIX, do đã xuất hiện Chủ nghĩa CS với tuyên ngôn tiêu diệt CNTB, nhằm tạo ra một thế giới theo mô hình được miêu tả trong cương lĩnh của Quốc tế cộng sản I và Quốc tế CS III, trong đó lý luận và thực tiễn (diễn ra ở LX cũ và Đông Âu, theo mô hình Stalin) đã mâu thũân như “nước với lửa” với mô hình TBCN của Hoa Kỳ. Đứng trước một thử thách đe doạ  “sống còn” như vậy (hãy nhớ lại trước đây thế giói tư bản sợ và  ghét “bóng ma Cộng sản” như thế nào), trừ những năm tháng hợp tác tiêu diệt phát xít Đức – Ý - Nhật, giới cầm quyền nước Mỹ đã phải lao vào một cuộc chiến tranh lạnh và chiến tranh cục bộ dành giật thế mạnh để ngăn chặn sự lan rộng đến nguy hiểm của phe XHCN theo mô hình Stalin (vì tư duy và khí thế làm cách mạng vô sản thế giới có thời điểm rất sôi động ! ) Do vậy, thời đó, cuộc chạy đua chính trị, ngoại giao, quân sự, kinh tế với phe XHCN ngày càng ráo riết, tạo một sức ép khác bóp méo lý tưởng đẹp đẽ ban đầu của tuyên ngôn dựng nước của Hoa Kỳ. Vì sự tồn tại và bảo vệ lý tưởng tư do, dân chủ (tự nhiên, không điều khiển) của mình, giới cầm quyền nước Mỹ đã không từ một thủ đoạn nào, dù tốt, hay xấu, để trụ vững, cân bằng, tiến tới bao vây nhằm chặn đứng sự “lây lan” của một mẫu hình sống mà họ không thể dung hoà, không thể chấp nhận được (và quả thật, sau đó vào những năm 80 – 90 của thế kỷ trước, đến chính nhân dân LX và Đông Âu cũng không thể chấp nhận được)

Hai lý do trên đã tạo sức ép lớn cộng hưởng với tính tự do, dân chủ thiếu điều khiển tự thân của mô hình sống mà nhân dân Mỹ đã lựa chọn, đã dẫn đến những hậu quả mà ta sẽ nói đến sau đây.

d) Quay lại với những đặc trưng cơ bản của Hoa Kỳ: Sự xuất hiện nền chính trị tự do dân chủ tự nhiên này đã tạo ra động lực dẫn đến sự phồn vinh vật chất nhất nhì thế giới, nhưng cũng chính nền chính trị đó tạo điều kiện cho mọi khả năng có thể xẩy ra, từ cực tốt, đến cực xấu (cả nghĩa đen, lẫn nghĩa triết học), chúng đều có thể xẩy ra trên đất Mỹ: Nước Mỹ đã vừa là thiên đường (cho những người tài giỏi, tốt số, “anh chị” ), lại vừa là địa ngục (cho những người yếu hèn, xấu số, xa cơ lỡ vận), nước Mỹ vừa có văn hoá ở đỉnh cao của Nhân loại, vừa tồn tại và nẩy sinh những thói hư tật xấu, sự kiêu căng, tự phụ, thậm chí những tư duy và hành động kì dị, nhưng chính xác hơn cả: nước Mỹ là một bãi chiến trường ! (Xin xem bài: “Hoa Kỳ và cường quốc lãnh đạo thế giới” ngay trong trang Web này, mục Nghiên cứu khoa học). Nước Mỹ là nơi rất phù hợp và đúng với “5 nấc thang nhu cầu của Maslow” (Cũng có thể xem trong mục nghiên cứu KH của trang Web nói trên). Chỉ đến khi cái xấu dẫn đến cực điểm, ví dụ kiêu ngạo, độc đoán, tham tàn, độc ác, lật đổ, gây chiến . . . (hoặc với những động cơ tốt - xấu lẫn lộn, được mệnh danh là “sen đầm quốc tế”, với chính sách “cây gậy và củ cà rốt”) đưa đến nhiều hậu quả tai hại ngay trên đất Mỹ, và sự chồng trả quyết liệt trên thế giới, và hậu quả mà chính nhân dân Mỹ cũng không thể chịu đựng được, họ mới phải xem xét mổ sẻ lại hành động của chính phủ và cũng rất tự do dân chủ và bình đẳng trong việc tìm giải pháp khắc phục, và với thể chế và cơ chế quản lý đất nước mà họ đã lựa chọn, họ thường thường đã tìm kiếm khá nhanh được giải pháp khắc phục, đương nhiên là không phải một sớm, một chiều. Một hệ thống đồ sộ về kinh tế - xã hội – văn hoá – quân sự - tập quán, thói quen, sự ngưỡng mộ, cùng  cả những hận thù, và muôn vàn những mối quan hệ dàng buộc phức tạp nội tại và với phần lớn các nước trên hành tinh, thì quán tính là cực kỳ to lớn ! Hoạt động ráo riết của chính quyền Mỹ gần đây, từ Tổng thống Obama cho đến ngoại trưởng Hilary Clinton . . . trên trường quốc tế nhằm “chữa chạy” dần dần, nhưng gấp gáp, những sai lầm đã mắc trong nhiều thập kỷ qua của nước Mỹ với thế giới, đã nói lên điều đó.  

Tóm lại, những nước đi theo con đường tự do dân chủ bình đẳng theo cái “gien” Phương Tây kiểu này đã tạo ra sự tiến hoá khá nhanh, đem lại nhiều sáng kiến, sáng tạo vượt trội, song cũng dễ, thậm chí luôn luôn tạo ra những tư duy và hành động quá khích, chao đảo, dễ gây nên các bất ổn định, thậm chí đặc biệt cực đoan, có thể tàn phá cả một hoặc nhiều xã hội, nhiều quốc gia, dân tộc một lúc (như khi nó đã dẫn đến chủ nghĩa thực dân, đế quốc, chủ nghĩa phát xít). . . Đó là điều nhân dân thế giới không chấp nhận. Nếu cứ  tiếp tục theo chủ nghĩa tự do dân chủ kiểu này, cả thế giới cuối cùng sẽ thành một bãi chiến trường của những người, những nước tài giỏi cực đoan tranh hùng tranh bá với nhau, thế giới sẽ tan hoang, loài người sẽ điêu đứng, hoặc ngược lại, cả thế giới sẽ sống đặc sệt chỉ một kiểu, đó là kiểu văn hoá lối sống “cao bồi” như nước Mỹ thế kỷ XX :Thiên đường xen kẽ địa ngục trong một bãi chiến trường khổng lồ cạnh tranh tự do loạn lạc đầy nguy cơ tiềm ẩn (khủng bố) bất tận, không chỉ  trên đất Mỹ, mà còn loang ra toàn thế giới. Rằng hay thì thật là hay/ Xem ra ngậm đắng nuốt cay cũng nhiều !

Vì vậy, sang thế kỷ XXI này, thấy được những mặt nhược điểm, thậm chí nguy hiểm của nền văn minh kiểu này, nước Mỹ đang dũng cảm, tìm cách vượt qua chính mình, tìm tòi một con đường phát triển mới tốt đẹp hơn. Hy vọng của họ, và của những nước theo “môtíp” này, là sẽ tìm được con đường mới, tạo ra những chuyển biến đem lại hoà bình, thịnh vượng bền vững và lòng nhân ái, bao dung cho toàn Nhân loại.

 

2- Về con đường tiến hoá thứ hai, tôi xin chọn Trung quốc (trước khi Hồ Cẩm Đào lên TBT và Chủ tịch nước, để chính xác và “thân thiện” hơn thì phải nói là trước cách mạng dân chủ nhân dân 1949) làm một mẫu hình sắc nét đại diện cho những nước tiến hoá theo con đường này để phân tích.

 

+ Về đặc điểm đầu tiên: Nếu nước Mỹ là nơi tụ hội đến của công dân hầu hết các nước trên hành tinh (hợp chủng quốc một cách tự nguyện) thì Trung quốc thời cũ, như hầu hết các nước lớn phong kiến, trái lại, là kết quả bành trướng ra từ một trung tâm rộng dần ra ngoại biên. Nước Trung hoa ngày nay hình thành từ rất nhiều các bộ tộc lạc hậu, các quốc gia phong kiến nhỏ bé ở đại lục Châu Á.(Tạm lấy số liệu sau: ngay thời những năm 265 – 285 trước CN, trong khu vực trung tâm Trung quốc hiện nay đại loại có các nước Tấn, Nguỵ, Thục, Ngô, Triệu, Tần, Yên, Lương, Hạ, Hán  v. v. . . .). Ở đây, xuất phát từ chế độ nô lệ “chủng tộc” với ba biểu hiện phân biệt: họ lớn, họ nhỏ; nội tộc, ngoại tộc; quốc và dã, với ý thức hệ lễ trị và đức trị. Sau khi chế độ nô lệ tan rã, xuất hiện thời Chiến quốc: Bẩy nước đánh nhau với quy mô lớn kéo dài trong  . . .2 thế kỷ (!) để dành quyền thống trị tất cả, cuối cùng là một Tần Thuỷ Hoàng thâu tóm hết. Để mở mang bờ cõi, nhà Tần đã đẩy dân lên giáp với Hung nô phía Bắc để chiếm đất, di dân xuống phía Nam (vùng Ngũ Lĩnh) nhằm lấn át không gian sinh tồn của người Việt, đẩy họ xuống tiếp phía nam xa hơn. . .Tần Thuỷ Hoàng đã  thống nhất lại công việc cai quản hành chính, lập nên một quốc gia với quy mô rất lớn tầm cỡ thời đó. Như vậy, trải qua hàng nhiều trăm năm từ trước công nguyên, thông qua những cuộc chiến tranh dành đất và đồng hoá về chủng tộc liên miên giữa các nước lớn đối với các nước nhỏ, cùng với thời gian, nhiều nước nhỏ yếu ở đây bị xoá sổ dần, còn lại một số, rồi đến lúc còn lại chỉ một nước trong chúng (cuối cùng, sau nhà Tần, là nhà Hán), do những yếu tố thiên thời, địa lợi, nhân hoà may mắn nào đó đã chiến thắng và thâu tóm, hợp nhất, cưỡng bức tập trung được những nuớc còn lại vào mình mà tạo thành một nước lớn Trung hoa ngày nay. Chính trong điều kiện hình thành lịch sử đó đã tạo ra một Trung quốc trước cách mạng (trước 1949) với những đặc điểm lớn sau:

+ Đặc điểm truyền thống trước tiên là tập quán, xu hướng bành trướng, chinh phạt lẫn nhau liên miên không ngừng, là sự lệ thuộc của các dân tộc nhỏ bé vào một số nước trung tâm, một số dân tộc tự xưng là trung tâm, là chủ, vào một số con người tự xưng là Đế. Cuối cùng, cũng bằng con đường chiến tranh bành trướng đó, là mọi quyền hành, quyền lợi tiếp tục tâp quyền phong kiến vào một nước lớn nhất - nước Trung tâm, và vào chỉ một người – là Thiên tử (Con trời) (*) Hoàng quyền và Giáo quyền gắn kết với nhau để thống trị hà khắc nhân dân. Các Mác gọi chế độ ruộng đất ở Trung quốc xưa là công hữu, nhưng thực ra nó là chế độ “vương hữu”, gọi chế độ “vua chuyên chế chồng lên các làng xã tự trị phương Đông” đã tạo ra một xã hội mà Mác nói là “nô dịch hoá toàn thể”, nhưng thực ra cũng có thể nói là “thần dân hoá toàn thể”.

+ Đặc điểm quan trọng, như một hệ quả tất yếu đã quá rõ,  là từ ngàn xưa,Tự do ở Trung quốc cũ chỉ dành cho một người – Thiên tử, Hoàng đế -, bình đẳng chỉ dành cho một dòng họ cầm quyền – Thiên triều, Hoàng gia. Tất cả còn lại chỉ là chư hầu, thần dân, là man di. Vua bảo sống, thì được sống, vua bắt chết, thì phải chết (chém đầu ngay không cần phải xét xử). Đất đai, sông núi, tất cả mọi thứ dưới bầu trời này, nơi mà họ quan tâm và có thể  “với tới” được, đương nhiên phải là của Thiên triều. Vua ban cho thần dân cái gì, thì họ mới được hưởng và hàm ơn cái đó. (Vì vậy, sau cách mạng dân tộc, dân chủ 1949, việc lựa chọn thể chế chính trị đơn nguyên, và độc đảng lãnh đạo được chấp nhận như là một lẽ tự nhiên).

+ Sự không có tự do và dân chủ dẫn đến nhiều hệ quả quan trọng: “Luật là ta”, là do vua ban ra. Những đời thiên triều anh minh, thì thần dân được hưởng ấm no,thái hoà, các mặt chính trị, kinh tế , văn hoá, xã hội , quân sự, khoa học kỹ thuật khá phát triển. Khi gặp những ông vua dốt nát, đần độn, triều đình suy thoái, ngày càng mất đạo đức, đầu óc u mê, vua quan trở nên lục đục, tàn ác, hoặc khi gây chiến tranh chiếm đất, chiếm dân, thực hành chính sách đồng hoá ngoại bang, thì nẩy sinh sung đột, thần dân bá tính các bên đều lầm than đau khổ, chết chóc, tàn phá, nền chính trị, kinh tế khoa học kỹ thuật v.v…trở nên trì trệ kéo dài (Điển hình là 2 thế kỷ chiến tranh lớn kéo dài giữa các nước thời Chiến quốc, và vào    thế kỷ 19, đầu 20)

+ Chế độ không có tự do, dân chủ đã kìm hãm nặng nề Trung quốc hầu như trong phần lớn thời gian mấy ngàn năm tồn tại của nó. Những thời kỳ phục hưng phát triển để có nhiều thành tựu khoa học kỹ thuật là khá hiếm. Nhân dân hầu như nằm sâu trong tiềm thức cam chịu kiếp sống phụ thuộc, nô lệ, không hiểu thế nào là tự do, càng rất ít có nhu cầu sáng tạo, tìm kiếm cái mới . . Triều đình cha truyền, con nối, quản trị đất nước bằng lễ, nhạc, đạo đức phong kiến, bằng tục lệ gia trưởng. Khuynh hướng của tư duy đỉnh cao không thiên nhiều về khoa học công nghệ, phát minh sáng chế . .., mà nặng về các luân lý xã hội, lễ nhạc, mọi  “biến pháp“ và cách giáo lý phục vụ cho sự ổn định tập quyền, ru ngủ cộng đồng (điển hình là các học thuyết của Khổng tử, Mạc tử, Mạnh tử, Trang Chu, Trình Chu, v. v. . . .khó mà kể xiết, gộp tất cả lại trong khái niệm gọi là Nho giáo, nổi tiếng nhất là học thuyết của Khổng tử), xây dựng các thể chế ngày càng nâng cao chất lượng để an dân, nâng cao đức, lễ, nghĩa, tín, ý thức trung quân, đảm bảo cai trị cưỡng bức được vững chắc, ngày càng củng cố và làm hoành tráng tối đa thiên triều, đặc biệt có nhánh tư duy đỉnh cao là sáng tạo các thủ đoạn, mưu mẹo thông minh, thậm chí thâm độc, ác hiểm (điển hình là “mưu Tào Tháo” . . .) để khuất phục, chiến thắng lẫn nhau, và bành trướng ra ngoại vi (Vì thế chế độ phong kiến phương Đông tuy yếu về tự do, dân chủ và công nghệ, nhưng lại giỏi về mưu lược, thủ đoạn, các âm mưu);

+  Những nước được hình thành theo con đường thứ hai này, do cơ chế tập trung quyền lực theo kiểu cưỡng bức, vì vậy hạn chế nghiêm trọng sức sáng tạo và khả năng phát triển mọi mặt của đất nước, làm cho tốc độ tiến hoá chậm hàng thế kỷ so với các nước phương Tây.  “Cái bánh không được bàn tay, khối óc sáng tạo to lớn ra, mà bằng cách tước đoạt lẫn của nhau để có phần bánh lớn hơn”. Sự chậm phát triển, tình trạng đói nghèo, mâu thuẫn nội bộ tạo mầm mống cho những sung đột xã hội ở trong nước. Giới cầm quyền đương nhiên sẽ tìm cách đàn áp sự bất bình trong nhân dân, đẩy sự sung đột nội bộ ra bên ngoài thông qua các cuộc chiến tranh cục bộ với các nước láng giềng dưới chiêu bài đấu tranh cho quyền lợi dân tộc, chống trả sự xâm phạm chủ quyền của ngoại bang. Không chỉ Trung quốc trước cách mạng, mà nhiều nước cùng “loại” đã nhiều khi dùng kiểu gây chiến với bên ngoài để giải quyết mâu thuẫn nội bộ.

+ Cuối cùng thì văn hoá phương Tây (con đường tiến hoá thứ nhất) cũng tràn tới. Mặc dầu đã có tới gần trăm năm Âu hoá mà dân chúng vẫn chưa hết sợ, vẫn còn tư tưởng lệ thuộc, cam chịu, chưa giác ngộ được tự do của mình và thừa nhận tự do cho/ của người khác, còn nhiều nhà cầm quyền vẫn chưa gột rửa hết tư tưởng, quan điểm “Thiên triều”, độc quyền, tham lam, luôn tìm cách thâu tóm, mở rộng bờ cõi, bành trướng rất “hồn nhiên, vô tư” theo thói quen (cái gien) của cha ông từ đời xưa của họ để lại  . . . Chỉ đến mấy chục năm sau cách mạng Trung hoa do đảng CS lãnh đạo thành công, ý thức được sự lạc hậu về chính trị và xã hôi của mình, Đảng CS mới thực sự quyết tâm mở cửa học tập phương Tây, xây dựng “xã hội hài hoà”, nhân dân mới quan tâm đến chữ tự do và bình đẳng của mình, đất nước mới phát triển mạnh mẽ về kinh tế. Điều chứng minh hiển nhiên là chỉ sau 30 năm cải cách mở cửa, đổi mới tư duy về kinh tế, nước Trung Hoa đã làm được tất cả những gì mà hàng mấy ngàn năm tồn tại  họ đã không có được (Trong cuộc đổi đời này, cả mặt mạnh và mặt yếu của văn hoá Trung hoa đều thể hiện khá rõ)

+ Cũng như Hoa Kỳ, và nhiều nước hùng mạnh phương Tây khác,Trung quốc nước lớn, và nhiều nước lớn phương Đông khác, luôn muốn bành trướng ảnh hưởng của mình, từ đó dành được nhiều quyền lợi riêng, nhiều “miếng bánh” to hơn cho nước mình, theo cách hiểu riêng của họ. Nếu Hoa Kỳ bành trướng thông qua ép buộc mở cửa thị trường tự do để cạnh tranh về hàng hoá, công nghệ, sức mạnh tài chính dựa trên chính sách “cây gậy” (quân sự) và “củ cà rốt” làm chỗ dựa để vơ vét của cải khắp các nơi thiên hạ, thì Trung quốc phong kiến lấy vũ lực, dùng mưu mẹo và các loại thủ đoạn để mở rộng bờ cõi, chiếm đoạt tài nguyên đất đai nhằm tăng tiềm lực quốc gia. Hàng nhiều thế kỷ, các nước lớn thì hà hiếp, ăn cướp kiểu “luật rừng” của nước lớn, thậm chí trắng trợn, gây chiến tranh xâm lược, còn các nước phong kiến nhỏ hơn thì cũng trục lợi, chủ nghĩa dân tộc hẹp hòi, không kém cạnh, nhưng tinh vi hơn, ít trắng trợn hơn. Đó chính là cái mầm của mọi sung đột và chiến tranh liên miên, chết chóc, đau khổ suốt chiều dài lịch sử Nhân loại vừa qua cho đến giờ này vẫn còn đang tiếp diễn khắp nơi, đã để lại, và vẫn còn đang tạo ra những va chạm quan hệ vô cùng phức tạp và sự hận thù tích tụ rất khó gột sạch.

Tóm lại: Tương tự như trên đã nói về Hoa Kỳ, nhưng đối với những nước sống theo truyền thống kiểu tập quyền phong kiến Trung hoa xưa, thì hậu quả lại theo chiều hướng khác, Có thể hình dung, các nước lớn “mô típ” phong kiến tập quyền này có xu hướng bành trướng theo địa lý đất đai và dân cư (chứ không bành trướng bằng khoa học, công nghệ, sản phẩm tốt chất lượng cao, và văn hoá, lối sống). Theo suy diễn logic đó, nếu không có thắng lợi của cách mạng Dân tộc - Dân chủ của CHND Trung hoa 1949, hậu quả có thể dẫn đến hình thành một nước Trung hoa Đại Hán còn to lớn hơn hẳn ngày nay ! Nếu các nước khác trên thế giới nằm trong “mô típ” này, mà cũng hành động mở rộng bờ cõi bá quyền như vậy, thì thay vì có trên 200 nước độc lập, đa dạng trên thế giới như đã và đang có, họ sẽ bị cưỡng bức sáp nhập dần vào các nước lớn. Đến một lúc nào đó (giả định) số nước còn lại sẽ rất ít, và chính những nước lớn mới này sẽ tiến đến một trận quyết đấu “chung kết” , “một mất, một còn” cuối cùng để dành ngôi vị “độc chiếm duy nhất” Trái Đất – Thiên triều của toàn Hành tinh. Lúc đó Thế giới này, thay vì trăm hoa đua nở, đến lúc đó sẽ chỉ còn lại duy nhất một dân tộc nào đó được coi là thượng đẳng (kiểu tư duy của Hít le trước kia và Pôn pốt gần đây), một người (Thiên tử) hay một nhóm người nào đó (Thiên triều) được quyền quyết định tất cả, thậm chí có thể cho sống được sống, bắt ai chết phải chết . . . ., và vì vậy, nhân dân sẽ nổi dậy chống lại, khủng bố, chiến tranh vẫn lại liên miên với  những hậu quả rất tệ hại của chúng không khi nào ngừng. Thấy được điều vô lý đó, nên lãnh đạo Đảng và Nhà  nước  Trung Hoa đang mạnh dạn, dũng cảm vượt qua chính mình, đang nhanh chóng đổi mới tư duy, nâng tầm văn hoá và tri thức của dân mình, đặc biệt là về mặt “văn minh chính trị”. Tuy nhiên, cũng như Mỹ,  đất nước Trung hoa vĩ đại, cực kỳ đồ sộ về lượng, với hàng nhiều chục dân tộc lớn nhỏ, đa dạng khác nhau, “đã từng đồng sàng dị mộng”, với quan hệ rất phức tạp do lịch sử để lại với hầu hết các nước láng giềng, lại phải khắc phục những tàn dư, quan điểm cũ kỹ trong nước trên một tỷ dân như đã miêu tả - tuy chưa thật đầy đủ - thì đương nhiên cũng không thể nhanh chóng chuyển biến hết ngay thậm chí trong một thế kỷ. Rất hy vọng là nước Trung hoa, và những nước theo “môtíp” này, sẽ có những tìm tòi cái mới, nẩy sinh những sáng tạo văn minh, theo kịp thời đại, đem lại hoà bình, thịnh vựơng, nhân ái, và tạo ra bầu không khí trong lành bao dung thân thiện cho cả Loài người. Những tuyên bố mới đây của các nhân vật lãnh đạo cao cấp của Trung quốc, đặc biệt là của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Hồ Cẩm Đào, đã phần nào nói lên điều này.

 

(*)  Thói quen bành chướng, chiếm đoạt không phải một sớm một chiều được hình thành, do đó cũng không phải tự nhiên, dễ dàng mà nó biến đi:  “Do yêu cầu cướp đất, cướp người, chiến tranh nổ ra liên miên trong thời Xuân Thu. Phạm văn Lan tính ra trong 242 năm có tới 483 cuộc chiến tranh, không kể 450 lần “triều sính minh hội”. Từ chỗ có tới 1800 nước chư hầu đến chỗ chỉ còn 5 nước lớn và dăm nước nhỏ chờ bị tiêu diệt. Đầu thời Chiến quốc kéo dài 2 thế kỷ, những nước nhỏ bị diệt. . .,trong hàng ngũ 7 cường quốc, thì nước Tần mới lớn lên (trước đó còn bị coi là mọi rợ), lợi dụng lúc quân các nước khác kéo nhau đi đánh phương Nam, Tần đã đánh chiếm các tộc Khương , Di, Nhung . . . , tạo thành một nước lớn ở phía Tây; Nước Sở - một nước lớn ở phía Nam, uy hiếp và thâu tóm năm nước Quan Đông . . . ; Khi Tần Thuỷ Hoàng thâu tóm được quyền lực, đã dời dân trung bộ lên phía Bắc giáp Hung nô, lập 45 huyện thành mới, bắt dân đắp trường thành dài 3 vạn cây số để chống Hung nô (lúc đó phía bên kia trường thành chưa thuộc đất Trung quốc ngày nay), mặt khác dời dân xuống Ngũ lĩnh để “ở” với người Việt. Việc di dân làm cho biên cương mở rộng, Trung quốc  trở thành một địa bàn thống nhất…, cũng bằng cách đó, nhà Hán lên nắm quyền, dần dần hình thành nhà nước Đại Hán như đã thấy  “ (theo GS Trần Đình Hựơu)

 

            3- Con đường tiến hoá theo CNXH “nhầm lẫn”. Để rõ nét, chúng tôi xin lấy Liên xô cũ làm thí dụ.

 

+ Nếu đặc điểm chung lớn nhất của hai nhóm trước là “hồn nhiên”, rất tự nhiên theo tập quán, lối sống hình thành dần từ hàng ngàn năm khi tổ tiên cha mẹ họ sinh ra, thì đặc điểm đầu tiên của con đường tiến hoá thứ ba này là sự tiến hoá có “điều khiển”, có “lý tính” và được “chỉ huy” hướng dẫn  ngay từ đầu, bởi những lý luận, những đường lối chung mang tính khoa học.

+ Trước đây hàng vạn năm, khi con người đã biết đến thế nào là cuộc sống cần hoà bình, nhân từ, đạo đức giữa con người với nhau, nhất là khi có nhu cầu sống văn hoá, theo khoa học v.v…, thì hàng loạt các đạo giáo, các học thuyết, các thứ chủ nghĩa khác nhau bắt đầu ra đời. Khó lòng kể hết các đạo giáo, các học thuyết đã tồn tại từ hàng ngàn năm trước đây, tuy nhiên người ta chú ý đến một thứ giáo lý mà khoảng mấy trăm năm lại đây các nhà triết học cổ điển gọi là chủ nghĩa xã hội (CNXH),

+ CNXH được nhắc đến từ hàng ngàn năm trước đây, đầu tiên chỉ là một lý tưởng, một ước mơ hình thành dân dần của Loài người về một xã hội tốt đẹp, hoà bình, có tính cộng đồng cao, nhân từ, bác ái, người với người là bạn của nhau . . .( Ý muốn chối bỏ chủ nghĩa cá nhân, chủ nghĩa dân tộc hẹp hòi, ích kỷ, thậm chí người xử sự với nhau như thú rừng . . .). Quá trình mò mẫm tìm kiếm CNXH của nhiều dân tộc phát triển sớm trên thế giới chưa khi nào nguôi ngoai, nhưng là khó khăn, trầy trật, có lúc rộ lên, có lúc chìm đi, hầu hết là đã thất bại của những thử nghiệm, mô hình hoặc lý thuyết cụ thể, và còn kéo dài chưa biết đến bao giờ sẽ thành đạt thật sự vì sự “mò mẫm” của nó. 

+ Tuy nhiên, vào giữa thể kỷ 18 (khoảng 162 năm trước đây) một học thuyết rất đặc biệt, là học thuyết của Các Mác (được đánh giá là một thành quả lao động trí tuệ sáng tạo vĩ đại bậc nhất thời bấy giờ của toàn thể Loài người), và đặc biệt hơn nữa, như là một bộ phận của học thuyết ấy, Mác đã đưa ra một chủ nghĩa, gọi là Chủ nghĩa Cộng sản (CNCS). CNCS nói rõ nguyên nhân tại sao giai cấp công nhân lại bị bóc lột thậm tệ như thời bấy giờ tại các nước công nghiệp, tại sao thế giới lại tồn tại hai tầng lớp, hai nhóm nước giầu nghèo tách biệt nhau, tại sao Loài người lại luôn sống trong khủng hoảng thiếu, hoặc thừa và luôn bị chiến tranh đe doạ. CNCS cũng nói rõ, muốn khắc phục tình trạng đó, giai cấp công nhân và nhân dân lao động phải làm gì, và làm thế nào. Hơn thế, nếu làm được như vậy, thì Nhân loại sẽ hết bất công, hoà bình hạnh phúc, của cải sẽ chẩy ra như nuớc, và người ta sẽ được “làm theo năng lực và được hưởng theo nhu cầu”, thế giới sẽ đại đồng. Các lý thuyết của Mác hầu như tất cả đều cực kỳ thuyết phục, đượm chất khoa học nhân văn, nhưng không kém phần rắc rối, sâu sắc, nên không phải ai cũng ở trạng thái có thể trong một thời gian ngắn dám coi là thông hiểu hết, và điều quan trọng là còn cần được qua thực tiễn kiểm nghiệm. Tuy nhiên, khi được nghe người ta thuyết trình sơ qua về CNCS, thì thế giới bắt đầu “sôi sục” lên: tầng lớp công nhân lao động, bình thường, lâu nay vẫn “mê ngủ”, an phận, thì nay như bừng tỉnh, vùng dậy, quyết tâm tham gia phong trào đòi kỳ được bằng mọi cách những thứ mà Ông Mác nói là họ đã bị giai cấp tư sản tước đoạt. Những người theo CNXH thì coi lý luận của CN Mác như là một ánh sáng soi đường tuyệt vời cho họ trên con đường đấu tranh thực hiện lý tưởng cao đẹp mà họ tôn thờ lâu nay, từ đây họ đã coi CN Mác như là cơ sở lý luận dẫn đường duy nhất đúng cho mình; tầng lớp ông chủ tư sản, trung lưu giầu có, thường ngày vẫn tỉnh táo, hơn thế còn có đầu óc tìm tòi, sáng tạo, sau khi nghe CN Mác khẳng định, rằng chính họ là giai cấp đang đi “tước đoạt” công nhân và các tầng lớp dân nghèo, các dân tộc nhược tiểu, và sẽ bị cách mạng vô sản “tước đoạt” trở lại, và giai cấp tư sản này sẽ bị tiêu diệt, thì giật mình, hoảng sợ, tìm mọi cách chống trả lại. Đó là cội nguồn của sự xuất hiện 2 phe đối lập nhau “một mất, một còn” trên thế giới. Những nơi, những nước mà ở đấy phong trào xã hội phát triển theo đường lối tiến hoá kiểu của CN Mác thắng thế , thì tập hợp nhau lại thành “phe XHCN”. Những nước tư bản còn lại, nhóm hợp với nhau thành “phe TBCN”. Hoa Kỳ đã được chọn làm mẫu hình cho khối TBCN với những đặc điểm điển hình như đã được miêu tả ở mục 1.

+ Con đường thứ 3 mà ta đang miêu tả, chính là con đường của phe XHCN hiện thực, bao gồm Liên Xô cũ, các nước XHCN Đông Âu, và một số nước khác, chẳng hạn như Trung quốc sau 1949 và Việt nam sau 1945. Tại sao chúng tôi lại gọi con đường thứ 3 này là con đường XHCN “nhầm lẫn” ? . Sau đây là lý giải rất ngắn gọn chuyện này.

1. Các Mác đã rất dầy công nghiên cứu và rút ra được hàng loạt những lý luận và những kết luận khoa học về sự tiến hoá tất yếu của xã hội Loài người, trong đó nói rằng, sau Chế độ phong kiến, xã hội Loài người tất yếu sẽ phát triển lên CNTB (và điều đó đã thành hiện thực và mọi người đều đã công nhận). Mác đã chứng minh tiếp theo: sau CNTB, xã hội Loài người, thông qua cuộc đấu tranh giai cấp như đã nhắc tới ở trên, nhất định sẽ tiến hoá tới một xã hội tốt đẹp hơn, mà theo các tính chất được miêu tả, và cách hiểu từ xa xưa, dù mới là mong ước, thì đó chính là CNXH. Mác còn nói rõ: Các nước TB phát triển nhất, sau khi đã đạt đến một trình độ phát triển xã hội nhất định, sẽ tự chuyển hoá lên CNXH trước tiên so với tất cả các nước khác trên thế giới. (Ta nên bổ sung thêm: sau khi đã buộc Loài người phải trả những cái giá thật đích đáng ! ) Còn các nước khác phải tiếp tục qua một cuộc đấu tranh lâu dài, tuần tự qua các nấc thang tiến hoá, rồi cũng cũng sẽ đạt tới CNXH đích thực. Quá trình này, có khi hàng thế kỷ, hoặc lâu hơn nữa, khi mà lực lượng sản xuất phát triển mạnh mẽ, đến mức “hàng hoá chẩy ra như nước”, lao động con người “không còn là khổ sai, mà là một nhu cầu hứng thú”, nên lao động sẽ trở nên tự giác, con người sẽ văn minh, nhà nước sẽ không còn cần thiết, nên sẽ tự triệt tiêu, thế giới sẽ đại đồng !  

2. Mác đã chỉ ra biện pháp cách mạng: Để đến được trạng thái đó của thế giới – mà Mác gọi là CN Cộng sản -  giai cấp công nhân cần phải đoàn kết lại, đấu tranh vũ trang lật đổ chính quyền của giai cấp tư sản, tiêu diệt chế độ người bóc lột người, xoá sạch các tàn dư và cỗi rễ của chúng, không còn mầm mống tái lập lại chế độ Tư bản nữa, làm lại xã hội từ đầu theo cách mới để đạt được “độ trong sạch” : công hữu hoá tất cả tư liệu sản xuất, thủ tiêu cơ chế thị trường, quản lý xã hội theo cách chỉ huy tập trung thông qua chuyên chính vô sản, kế hoạch hoá sản xuất từ trung ương, phân phối bình quân thu nhập đồng đều, dưới sự lãnh đạo duy nhất của một đảng kiểu mới, đảng của giai cấp công nhân. Tóm lại, nếu bên tư bản làm a, thì CNCS phải làm ngược lại là b ).Đó là đường lối cách mạng tổng quát của Quốc tế Cộng sản I vào nửa đầu thế kỷ 19. (Sau nhiều thất bại, QT CS I đã dần dần tan rã)

3. Tuy nhiên, Lênin thiên tài đã làm được như QT CS I đã chỉ ra ở nước Nga Sa hoàng - mắt xích yếu nhất của phe tư bản lúc bấy giờ: Lênin đã lãnh đạo giai cấp công nhân đập tan chế độ Nga hoàng thối nát, đưa giai cấp cần lao lên nắm chính quyền , tự do bắt tay xây dựng xã hội mới không còn chế độ người bóc lột người, theo ý nguyện của mình, đúng như Mác đã chỉ dẫn, với những sáng tạo kịp thời, cụ thể của Lênin. Chính Lênin, thông qua mẫu hình lý luận và thực tiễn cách mạng của Nga, đã khôi phục lại phong trào cộng sản Châu Âu đi theo đường lối QTCS I, và  Ông đã lập nên QT CS III. Tuy nhiên, lòng căm thù của giai cấp công nhân chủ yếu chỉ đủ để tạo ra sức mạnh tàn phá, chứ không đủ để có thể sáng tạo ra cái mới. Nên chỉ sau mấy năm triển khai xây dựng thể chế chính trị và nền kinh tế xô viết, Lênin - cũng chính Lênin thiên tài - đã thấy ngay những bất cập của cách làm không tiếp thu, phá sạch cái cũ, bỏ qua quy luật tính liên tục của tiến hoá xã hội . . ., hơn thế những đường lối phát triển, những cơ chế quản lý xã hội kiểu này sẽ còn thủ tiêu động lực, ngăn cản sức sáng tạo của nhân dân, ngăn cản bước tiến đáng lẽ có thể có của xã hội, nguy cơ đưa đất nước Xô viết đến những thoái hoá, băng hoại mà Lênin đã sớm phát hiện và chỉ rõ. Vì vậy, Lênin đã buộc phải thay cách làm cũ bằng Chính sách kinh tế mới: Tiếp thu có chọn lọc những thành quả của phát triển tư bản chủ nghĩa trong quản lý xã hội, trong phát triển kinh tế, khoa học công nghệ, trở lại kinh tế đa thành phần, phát triển tư bản nhà nước, không ép buộc nông dân vào tập thể ngay, mở ra khả năng cho thị trường hàng hoá, cho các chuyên gia tư sản vào làm việc v.v…Lênin đã “vượt qua chính mình” để sửa sai. Bằng cách đó, chính quyền xô viết đã đứng vững, kinh tế trên đà phục hồi và phát triển. Nhưng rất tiếc, quá trình sửa sai này chỉ tồn tại khi Lênin còn sống.

5. Chính Stalin và những người XHCN ở các nơi khác đã nhầm lẫn khi cho rằng: Chính sách kinh tế mới của Lênin chỉ là một bước đi sách lược rất tạm thời. Do đó rất nhanh chóng, sau khi Lênin mất, dưới sự lãnh đạo của Stalin, nhà nước Xô viết lại quyết liệt, kiên trì quay trở lại đường lối xậy dựng CNXH theo các cơ chế cứng nhắc, mắy móc, sai lầm như cũ. Chủ trương xây dựng CNXH kiểu này cũng được chuyển giao cho các nước XHCN khác ở Đông Âu, Trung quốc, Triều tiên và Việt nam.

6. Cần nói thêm một ý: Các tư liệu lịch sử cho biết rằng, trên cơ sở những thất bại của nhiều cuộc nổi dậy của giai cấp công nhân tại một số nước Châu Âu theo đường lối đấu tranh vũ trang chống lại nhà nước tư bản; nhận thấy những cuộc đấu tranh đó đã buộc CNTB phải cải cách, thích nghi , dẫn đến một số chính sách xã hội hoá, một số nước tư bản đã mở rộng hơn nền dân chủ tư sản, và công nhân nhiều nơi đã có cơ hội đấu tranh nghị trường để đạt một số yêu sách chính đáng của mình, thì chính Mác (và Ănghen, cặp đôi cộg tác với Mác) đã chủ trương rằng, cuộc đấu tranh của giai cấp công nhân vì CNXH có thể tiến hành hoà bình thông qua nghị trường, phát triển dựa trên nền Nhà nước pháp quyền và nền dân chủ tư sản mà TBCN đã xây dựng được. Từ đường lối mới này đã xuất hiện ở Châu Âu tổ chức Quốc tế II (bỏ tính ngữ cộng sản đi). Chủ trương này đã bị các nhà cách mạng tả khuynh của Châu Âu và Liên Xô cũ coi là xét lại. Đây lại là cái nhầm thứ hai. Chính do những người XHCN thời sau Lênin đã mắc hàng loạt những sai lầm “chết người” khác nữa, nên chúng tôi đặt tên mô hình CNXH  giai đoạn trước khi Liên Xô và các nước “XHCN” Đông Âu sụp đổ là CNXH nhầm lẫn là vì vậy.

            Tóm lại, do hiểu chưa thấu đáo ý tưởng sâu xa lâu dài có tính định hướng của CN Mác, và cũng do những gợi ý ban đầu về biện pháp chưa chính mùi của Ông, những người cộng sản thế giới trước 1991 đã chủ quan, nóng vội, đốt cháy giai đoạn (điển hình là muốn bỏ qua giai đoạn phát triển kinh tế theo các cơ chế TBCN, bỏ qua giai đoạn xây dựng nền dân chủ tư sản), phát sinh “kiêu ngạo cộng sản”, vận dụng vội vã và thiếu chính xác tư duy lý luận của Mác, ngay cả sau khi Mác đã hiệu chỉnh lại đường lối biện pháp ban đầu là đấu tranh bằng vũ lực “tiêu diệt hết bọn tư bản”. Tuy nhiên công bằng mà nói: Không có cuộc đấu tranh đẫm máu của giai cấp vô sản, của phong trào cộng sản thế giới, thì Loài người còn tiếp tục chìm đắm lâu hơn nữa dưới sự tàn bạo đến khốc liệt, có thể cùng nhiều cuộc đại chiến hơn nữa của/ do CNTB gây ra, và cũng có thể còn lâu nữa ta mới có hình ảnh của CNTB hiện đại (dù vẫn còn khá nhiều khuyết tật ) như bây giờ !

Những nước tiến hoá theo con đường thứ ba này, về định hướng là đúng: Loài người sẽ chuyển hoá tới một xã hội tươi đẹp hơn, đó là CNXH đích thực, hay CN Hậu tư bản, hoặc Chủ nghĩa xã hội thông thái, nhưng về biện pháp, khi chọn vận dụng CN CS, đã có rất nhiều cái sai cơ bản, nên đã phải “làm lại” bằng nhiều cách khác nhau. Chính đó là nguyên nhân của sự chậm pha, vốn xuất phát điểm đã lạc hậu, lại tụt hậu thêm mất nhiều năm. Bây giờ các nước nguyên CNXH hiện thực đã chuyển pha, đang “chuyển đổi” hầu hết các thứ, đang còn tìm tòi theo nhiều con đường, từ triết học đến kinh tế, từ chính trị đến xã hội v.v.. vì vậy con đường này ( CNXH nhầm lẫn), cũng như số phận hai con đướng nói trên, không thể được chọn là hướng tốt rõ ràng cho toàn thể Loài người đi theo. Xin nói rõ: Thế   giới có thể từ chối không tiếp tục vận dụng  lý luận của CN Mác về đấu tranh giai cấp, hay CNCS nữa, song sẽ không hề bác bỏ định hướng phát triển tất yếu lên XHCN, bởi vì CNXH là ước mơ ngàn đời nay của cả Loài người, bất kể có CN Mác hay không, đúng hay sai, bất kể đã phải từ bỏ mô hình sai là XHCN nhầm lẫn !

 

 

Chung kết lại: Cả ba con đường tiến hoá điển hình gần như tự nhiên, tự do “vô tư” thiếu điều khiển và nhầm lẫn nói trên, dù ở mỗi nước, mỗi khu vực, mỗi thời đại trên thế giới có những biến thể khác nhau, nhưng tựu trung lại, một mặt đã đưa nền văn minh của Loài người đến trình độ như hiện nay, nhưng mắt khác, cũng lại đều đem đến cho Nhân loại những đau khổ và cuối cùng đều có thể dẫn đến những kết cục cực đoan tai hại : hoặc là sẽ luôn luôn tiềm ẩn chiến tranh, tự huỷ diệt hàng loạt (từ từ hay đột biến, bom đạn hay bệnh tật, từ dưới nước vọt lên hay từ trên trời dội xuống), hoặc là “một mình , một chợ “, một “võ đài”, độc tôn sinh học, độc quyền tư duy, đơn điệu thoái hoá, nếu không khéo lường hết để ngăn cản, thậm chí có thể trở về thời nô lệ hoặc biến mất trên Trái đất. Với trình độ và giác ngộ lẽ sống của nhân dân thế giới ngày nay, nhưng nếu không có những biến đổi rất cách mạng, thì khả năng thứ nhất chăc chắn sẽ là thực tế hơn cả. Tuy nhiên, Nhân loại tại thế kỷ XXI này đã đủ trí thông minh, đủ tinh thần, đạo đức và sức mạnh để nhận dạng sâu sắc những nguyên nhân dẫn đến đau khổ và bế tắc trong phát triển từ xưa đến nay: Từ cách sống theo “luật rừng”, “cá lớn nuốt cá bé” đến sự tự do thiếu kiềm chế (chủ nghĩa tự do mới), từ “văn minh” phong kiến, tiến tới văn minh tư bản thiếu điều khiển, rồi trải qua thử nghiệm mô hình XHCN kiểu Stalin đã thất bại . . . .  Nước Trung Hoa mới, “hài hoà” hiện nay, cũng như Hoa Kỳ với khẩu hiệu “thay đổi”, và nhiều nước đã và đang “chuyển đổi”, gần như cả thế giới đã thấy rất rõ những điều cực kỳ không “ổn” nói trên. Vấn đề hiên nay là: Đã đến lúc Loài người cần cùng quyết tâm, đủ thông minh để tự “vượt qua chính mình”, cùng nhau liên kết tìm ra những con đường mới giầu trí tuệ và nhân văn hơn, cách mạng triệt để hơn, chủ động dẫn tới sự tiến hoá văn minh tiếp theo tất yếu của Nhân loại./.

Hà Nội, 15 tháng 10, năm 2009. Vũ Duy Phú

(Còn tiếp phần III: Những tư duy đầu tiên về một con đường mới )

 

 

 

 

 

Ngày cập nhật: 25/10/09
Vú Duy Phú


 

TIÊU ĐIỂM
• Tư liệu nghiên cứu
• Cuộc cách mạng bao trùm
• Tư liệu tham khảo mới
• Tham gia bàn về cải cách hành chính - lựa chọn, đào tạo, xử dụng và tôn vinh cán bộ hành chính nhà nước
• Cùng tìm kiếm một con đường mới- Phần II
Tôn chỉ, mục đích
1. Nghiên cứu những vấn đề cơ bản trong lĩnh vực phát triển
2. Tiến hành tư vấn, phản biện, thẩm định và các dịch vụ KH&CN liên quan đến những vấn đề phát triển
3. Tổ chức bồi dưỡng kiến thức về khoa học phát triển
4. Tổ chức diễn đàn về vấn đề phát triển
5. Cung cấp thông tin, xuất bản ấn phẩm về những vấn đề phát triển
6. Hợp tác trong mạng lưới các tổ chức nghiên cứu phát triển

Bản quyền 2005 thuộc Viện Những Vấn đề Phát Triển
Địa chỉ: 14 Lê Phụng Hiểu - Hoàn Kiếm - Hà Nội. 
Điện thoại: 04-9350984 ,  Fax: 04-9350984